Thuần hóa

Article

May 27, 2022

Thuần hoá (cũng là thuần hoá) là sự biến đổi dần dần có mục đích của các loài sinh vật hoang dã (động vật, nhưng cả thực vật, vi khuẩn, ...) thành các loài đã được thuần hoá, thích hợp để làm giống. Nó là một quá trình đa thế hệ liên quan đến việc biến đổi gen vĩnh viễn của một loài để dẫn đến sự thích nghi bẩm sinh đối với con người. Bằng cách này, một người cũng có thể có ảnh hưởng đến bản thân, và chúng ta đang nói về quá trình tự thuần hóa. Con người chăm sóc sinh vật, có ảnh hưởng đáng kể đến sự sinh sản của nó và thu được các nguyên liệu thô cần thiết (sữa, da, v.v.). Những yếu tố này đã góp phần vào sự bùng nổ dân số. Sinh vật thuần hóa được coi là một loài hoặc loài phụ sinh sản dưới sự kiểm soát của con người. Các sinh vật thuần hóa không sinh sôi trong tự nhiên, bởi vì chúng không thể làm như vậy hoặc vì dạng hoang dã đã bị tuyệt chủng. Nếu một sinh vật thuần hóa xâm nhập vào tự nhiên và bắt đầu sinh sản độc lập với con người, chúng tôi gọi nó là hoang dã (ví dụ: Mustang, chó dingo, chim bồ câu thành phố). Một số loài đã được thuần hóa trong quá khứ xa xôi (Cách mạng Đồ đá mới), một số loài chỉ trong những thập kỷ gần đây, chẳng hạn như một số động vật lông thú. Chúng ta cũng phải coi một số loài chim được nuôi trong lồng là loài đã được thuần hóa, chẳng hạn như cá chuồn, chim cút Nhật Bản, chim hoàng yến, v.v., cũng như một số loài cá cảnh, chẳng hạn như mắt công, cá kiếm, cá kiếm, thiên đường, và những loài tương tự. . Trong quá trình thuần hóa, có những thay đổi về thể chất ở động vật được thuần hóa, chẳng hạn như: chiều dài chi, thay đổi bộ lông, hình dạng hộp sọ, thay đổi thần kinh trung ương (chủ yếu là giới hạn của hệ thống cảm giác và cơ xương), sinh sản hoặc sản xuất sữa. Kích thước não cũng giảm. Phần não ảnh hưởng đến các hành vi như gây hấn, phản ứng với căng thẳng,… đã giảm khoảng 40% Tuy nhiên, những thay đổi về thể chất không phải là dấu hiệu chính của sự thuần hóa. Ví dụ, tuần lộc thuần hóa không sản xuất quá nhiều giống và về cơ bản hầu như không thể phân biệt được với họ hàng hoang dã của chúng. Cuộc sống của nhiều người phương Bắc (Inuit, Evenk, Chukchi, Khant, Nenet và những người khác) hoàn toàn phụ thuộc vào nhau. Sự chung sống của con người và động vật cũng đã gây ra những thay đổi trong con người. Cơ thể phải thích nghi với việc tiêu hóa các sản phẩm động vật có hàm lượng chất bảo quản cao (ví dụ như dung nạp đường lactose).

Lịch sử

Quá trình thuần hóa có lẽ đã bắt đầu từ 10.000 năm trước ở khu vực giữa sông Euphrates và sông Tigris. Nó gắn liền với cuộc cách mạng thời kỳ đồ đá mới, khi con người dần chuyển từ lối sống du mục sang định cư. Nền kinh tế chiếm đoạt (săn bắt và hái lượm) chuyển thành nền kinh tế sản xuất và con người bắt đầu làm nông nghiệp. Họ sử dụng động vật cho công việc nông nghiệp, vận chuyển hoặc làm nguồn thực phẩm. Động vật được thuần hóa đầu tiên có lẽ là chó sói, chúng trở thành chó nhà (Canis lupus Familris). Chú chó dần hòa nhập vào xã hội loài người. Nhu cầu nuôi chó của con người hiện nay phần lớn là do di truyền. Tiếp theo là quá trình thuần hóa các loài động vật khác (như bò, cừu, dê và ngựa.) Con người thường săn bắt chúng giống như bất kỳ trò chơi nào khác, và trong những năm mạnh mẽ, họ muốn nuôi chúng trong những năm yếu hơn. Tất nhiên, trong những chuyến du mục của mình, họ cần phải đóng cửa để chúng không trốn thoát. Theo thời gian, họ cũng cần một số loại thức ăn gia súc, vì trong điều kiện không gian hạn chế, tiềm năng của đất nước ban đầu với việc bơm đàn lớn nhanh chóng cạn kiệt. Vì vậy, việc thuần hóa đang bắt đầu khởi đầu cho lối sống du mục của con người, bởi vì với nguồn thức ăn lâu dài, con người đã không còn phụ thuộc vào việc quan sát động vật hoang dã. Theo thời gian, quá trình thuần hóa cũng trở thành nguyên nhân làm biến đổi kiểu hình của con người với sự phát triển của nhiều thay đổi liên quan đến nhu cầu phải có các công cụ để tiêu hóa các sản phẩm động vật, thường chứa nhiều chất bảo quản (ví dụ: