NATO

Article

May 17, 2022

NATO (Tiếng Anh là Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương "Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương" hoặc Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương), còn được gọi bằng tiếng Đức là Liên minh Đại Tây Dương hoặc Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (tiếng Pháp OTAN - Tổ chức du Traité de l'Atlantique Nord), là một liên minh phòng thủ gồm 30 quốc gia thành viên châu Âu và Bắc Mỹ, có nhiệm vụ cùng nhau bảo vệ lãnh thổ của mình và cũng theo đuổi mục tiêu ổn định và an ninh chính trị toàn cầu. Cơ sở của NATO là Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương theo Điều 51 của Hiến chương Liên hợp quốc. Trong phần mở đầu, các thành viên cam kết với hòa bình, dân chủ, tự do và pháp quyền. Theo Bộ Quốc phòng Liên bang Đức, NATO coi mình là một “cộng đồng các giá trị của các quốc gia dân chủ tự do”. Là một tổ chức quốc tế không có chủ quyền, các quốc gia thành viên của nó giữ được chủ quyền và độc lập hoàn toàn. Trụ sở chính của NATO đặt tại Brussels từ năm 1967. Đây là nơi đặt trụ sở của Hội đồng Bắc Đại Tây Dương, cơ quan chính của NATO, và các cơ quan cấp dưới trực tiếp của nó: Bộ Tham mưu Quốc tế (IS) và Bộ Tham mưu Quân sự Quốc tế (IMS). Hai trụ sở quân sự quan trọng nhất là ACO (còn được gọi là Trụ sở tối cao Đồng minh Quyền lực Châu Âu / SHAPE vì lý do lịch sử và pháp lý) ở Casteau gần Mons, Bỉ, và Bộ Chỉ huy chuyển đổi Đồng minh (ACT) ở Norfolk, Hoa Kỳ. Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương được ký kết vào ngày 4 tháng 4 năm 1949 như một phần của chính sách ngăn chặn của Hoa Kỳ chống lại Liên Xô. Ban đầu được giới hạn trong 20 năm, nó được gia hạn vô thời hạn vào năm 1969 do Chiến tranh Lạnh đang diễn ra. Trụ sở chính của NATO ban đầu ở London và từ năm 1952 tại Paris. Do Pháp rút khỏi sự hợp nhất quân sự của liên minh, trụ sở chính được chuyển đến Brussels vào năm 1967.

Lịch sử và sự phát triển

Lịch sử

Ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, sự đối kháng giữa các cường quốc tham gia trước đây trong liên minh chống Hitler đã trở nên rõ ràng: một bên là Liên Xô và một bên là Anh, Pháp và Mỹ. Với Hiệp ước Brussels ngày 17 tháng 3 năm 1948, các nước Tây Âu như Pháp, Anh, Hà Lan, Bỉ và Luxembourg đã liên kết với nhau để thành lập một liên minh hợp tác kinh tế, xã hội và văn hóa và để tự vệ tập thể. Trên danh nghĩa, liên minh này vẫn được dự định là một hiệp ước hỗ trợ chống lại sự xâm lược mới của Đức. Vào ngày 11 tháng 6 năm 1948, Thượng viện Hoa Kỳ đã thông qua cái được gọi là Nghị quyết Vandenberg, trong đó nói rằng để đổi lấy cam kết của Hoa Kỳ trong việc bảo vệ bất kỳ quốc gia châu Âu nào thì nước đó cũng phải đồng ý bảo vệ Hoa Kỳ. Vào tháng 3 năm 1947, Hoa Kỳ đảm nhận vai trò bảo vệ quyền lực của Anh đối với Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ nhằm chống lại sự bành trướng quyền lực của Liên Xô (Học thuyết Truman). Với cuộc đảo chính tháng 2 năm 1948 ở Tiệp Khắc và Cuộc phong tỏa Berlin từ tháng 6 năm 1948 đến tháng 5 năm 1949, một mối đe dọa quân sự có thể xảy ra từ Khối phương Đông cộng sản do Liên Xô lãnh đạo đã xuất hiện ở Tây Âu. Các quốc gia Tây Âu giờ đây đã quay sang Hoa Kỳ với yêu cầu hỗ trợ quân sự chống lại sự xâm lược có thể xảy ra của Liên Xô. Điều này dẫn đến một thỏa thuận chung, Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương. Các cuộc tham vấn về văn bản và nội dung của hiệp ước bắt đầu vào ngày 6 tháng 7 năm 1948. Vào ngày 10 tháng 12 năm 1948, các cuộc đàm phán về Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương bắt đầu giữa các quốc gia thành viên của Hiệp ước Brussels, Canada và Hoa Kỳ.

Giai đoạn xây dựng và mở rộng từ năm 1949 đến năm 1955

Ngày 4 tháng 4 năm 1949, Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương được ký kết bởi Bỉ, Đan Mạch (với Greenland), Pháp (với f