Siat

Article

May 23, 2022

Họ Lợn (Suidae) là một bộ tộc thuộc bộ móng guốc. Lợn chỉ sống hoang dã ở Châu Âu, Châu Á và Châu Phi. Có rất nhiều thợ làm bánh giống lợn ở châu Mỹ. Lợn phát triển trong thời kỳ oligosene ở châu Á khoảng 40 triệu năm trước. Ngày nay, người ta đã biết đến 15 loài lợn sống sót khác nhau, hầu hết chúng thuộc chi lợn (Sus). Những dấu hiệu sớm nhất của lợn thuần hóa là cách đây 9.000 năm (7.000 năm trước Công nguyên) từ miền bắc Iraq, Lưỡng Hà và Anatolia thuộc Thổ Nhĩ Kỳ. Ngày nay, lợn nhà là một trong những động vật sản xuất thịt quan trọng nhất.

Kích thước và ngoại hình

Lợn là loài động vật móng guốc có kích thước trung bình, ăn tạp. Chúng khác với các loài động vật móng guốc khác ở chỗ thân hình chắc nịch, cổ ngắn và chân nhỏ so với phần còn lại của cơ thể. Lợn có đầu thuôn dài kết thúc bằng mõm tròn và răng nanh khỏe, thường nhô ra khỏi miệng. Lợn có chiều dài từ một mét đến hai mét, ngoại trừ lợn lùn, cao hơn con trưởng thành không quá 70 cm. Lợn có thân hình chắc nịch và 4 chân khá mảnh mai. Các ngón chân giữa hỗ trợ trọng lượng cơ thể, các ngón chân bên chỉ chạm đất nếu mặt đất chìm. Đầu lớn và hình nêm, mõm kết thúc bằng mõm di chuyển. Ở đầu của nó là một mảng sụn không lông mà lỗ mũi mở ra. Đôi mắt nhỏ và đôi tai nhọn. Cấu trúc của não rất phát triển. Da được bao phủ bởi những sợi lông cứng và thưa thớt. Một số loài có lông ở cổ. Hàm răng được phát triển tốt và nói lên sự toàn năng. Răng sau có mấu, mặt trước có cạnh sắc. Răng nanh đã phát triển thành răng cửa cong dần lên và ngày càng phát triển. Dạ dày là một mảnh hoặc hơi chia đôi. Phân bố và sinh cảnh Lợn được tìm thấy trên diện rộng ở Châu Âu, Châu Á và Châu Phi. Ranh giới phía bắc của vùng phân bố chạy qua phần phía nam của đới rừng lá kim. Cùng với con người, chúng cũng đã lan sang Australia và châu Mỹ. Lợn thường sống trong cây bụi và rừng cây, và tốt nhất là ở địa hình ẩm ướt, nhưng điều này rất khác nhau giữa các loài.

Phong cách sống

Lợn là loài động vật rất hòa đồng và thường di chuyển theo đàn. Chúng thích di chuyển vào lúc chạng vạng và rút lui nhiều ngày trong các hốc, giữa các thân rễ, bụi rậm và các hố mà chúng đào. Lợn được biết đến với xu hướng nhăn nheo, nguyên nhân chính của việc này là do điều hòa thân nhiệt, vì lợn không đổ mồ hôi. Đồng thời, họ cũng gạt bỏ những người ngoài cuộc. Những con lợn sủa trên mặt đất và ăn tất cả những gì khứu giác tốt của chúng và khứu giác nhạy cảm trên đĩa của bệnh nhân là có giá trị. Tất cả các loại thực vật đều có thể ăn được như rễ, cỏ tươi, lá, quả và nấm. Dinh dưỡng động vật cũng là một phần quan trọng của chế độ ăn. Lợn ăn nhiều côn trùng, ấu trùng, ốc, giun, ếch, thằn lằn, gà con và trứng, các loài gặm nhấm nhỏ, cá và xác động vật. Các loài lợn vùng ôn đới có mùa giao phối cố định, nhưng các loài lợn nhiệt đới có thể sinh sản quanh năm. Tuy nhiên, đôi khi chúng được xác định bởi mùa mưa và mùa khô. Thời gian mang thai khoảng 4 đến 5 tháng, sau đó lứa con được sinh ra từ một heo con đến khoảng 15 heo con, tùy theo loài.

Nguồn

Olendorf, Donna (eds.): Bách khoa toàn thư về đời sống động vật của Grzimek: Động vật có vú IV (Tập 125). Thomson, 2004. ISBN 0-7876-5791-3.

Tài liệu tham khảo

Ở những nơi khác về chủ đề này Suidae. Những chú lợn trong bộ bách khoa toàn thư trực tuyến Encyclopedia of Life. Video và hình ảnh của lợn. ARKive.org