U-Boot

Article

May 22, 2022

U-Boot là thuật ngữ tiếng Đức dùng chung cho các loại tàu ngầm, và là chữ viết tắt của Unterseeboot, nghĩa đen là "tàu ngầm". Thuật ngữ này được sử dụng trong các ngôn ngữ khác để chỉ tàu ngầm và tàu ngầm được sử dụng bởi hải quân Đức (Kaiserliche Marine và Kriegsmarine) trong các cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai. Đôi khi được sử dụng dạng U-Boat dạng góc cạnh.

Lịch sử

Mục tiêu của các chiến dịch U-boat trong cả hai cuộc xung đột là các đoàn xe vận chuyển hàng tiếp tế từ Hoa Kỳ và Canada đến châu Âu. Thuật ngữ U-Boot, theo sau là một số, ví dụ U-Boot 47 chỉ một tàu cụ thể, trong khi U-Boot Type II là một lớp nhất định. Những chiếc U-boat duy nhất có thể được coi là tàu ngầm thực sự, chứ không phải tàu ngầm, là những chiếc thuộc Kiểu XXI và Kiểu XXIII. Các tàu ngầm Deutsche Marine thời hậu chiến là U-boat và tiếp tục có ký hiệu U-boat, ví dụ như U-Boot-Klasse 212 A. 16 tàu ngầm, bị bắt trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, sau đó được phục vụ trong Kriegsmarine dưới dạng U-boat. Một số chiếc U-boat của Đức đã được phục vụ trong những năm đầu tiên sau Thế chiến thứ hai, trong các lực lượng hải quân khác nhau theo cách bồi thường chiến tranh. Thuật ngữ U-boat có thể biểu thị bằng các ngôn ngữ khác, ngoài tiếng Đức, các loại tàu ngầm sau: các tàu ngầm Đức thuộc Lực lượng Thủy quân lục chiến Kaiserliche trong Chiến tranh thế giới thứ nhất; các tàu ngầm Áo-Hung của k.u.k. Kriegsmarine của Chiến tranh thế giới thứ nhất; tàu ngầm Kriegsmarine của Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai; các tàu ngầm Đức của Bundesmarine sau Thế chiến thứ hai; các tàu ngầm Đức của Lực lượng Thủy quân lục chiến Deutsche sau khi nước Đức thống nhất.

Chiến tranh thế giới thứ nhất

Vào tháng 5 năm 1915, chiếc U-20 của Đức (U-boat Type U 19) đã đánh chìm tàu ​​viễn dương RMS Lusitania. Trong số 1.345 nạn nhân, 127 người là thường dân Mỹ, bao gồm một nhà sản xuất sân khấu nổi tiếng và một thành viên của gia đình Vanderbilt. Sự kiện này đã khiến dư luận Mỹ chống lại Đức và là nhân tố chính dẫn đến việc Hoa Kỳ tham chiến cùng với quân Đồng minh trong Thế chiến thứ nhất. Vào ngày 31 tháng 1 năm 1917, Đức tuyên bố rằng U-boat của họ sẽ tham gia chiến tranh tàu ngầm bừa bãi.

Chiến tranh thế giới thứ hai

Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, các cuộc tấn công của U-boat là thành phần chính của Trận chiến Đông Bắc Đại Tây Dương, kéo dài cho đến khi kết thúc chiến tranh. Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến và ngay sau khi Hoa Kỳ xâm nhập, U-boat đã cực kỳ hiệu quả trong việc tiêu diệt các tàu buôn của Đồng minh. Những cải tiến trong chiến thuật của đoàn tàu vận tải, sonar, bom độ sâu, giải mã Bí ẩn được người Đức sử dụng và tầm hoạt động của các máy bay hộ tống đã giúp lật ngược tình thế chống lại U-boat. Cuối cùng hạm đội U-boat bị thương vong cực kỳ nặng nề, mất 789 chiếc (cộng với 3 tàu ngầm Anh bị bắt) trong tổng số 1.157 chiếc (trong đó có 25 chiếc của quân Đồng minh bị bắt) và khoảng 30.000 thủy thủ trên tổng số 50.000 chiếc. Ngoài ra, Đức sở hữu 700 chiếc tàu ngầm rất nhỏ . Cần nhớ đến sự giúp đỡ của các tàu ngầm Ý, những người đã giúp đỡ đồng minh Đức với 32 chiếc và 109 chiếc bị đánh chìm. Các tàu ngầm U-boat của Đức và các tàu ngầm của Nhật Bản và Ý đã đánh chìm tổng cộng 2828 tàu của quân Đồng minh, với tổng trọng lượng khoảng 15 triệu tấn. Từ năm 1939 đến 1942, những chiếc U-boat đã đánh chìm các tàu chở hàng khác nhau đi dọc theo Bờ Tây Hoa Kỳ mà hầu như không bị xáo trộn, gây ra thiệt hại lớn. Khi người Anh tìm ra cách giải mã Bí ẩn và các đồng minh có thể dự đoán chuyển động của U-boat, người Đức đã không ngừng sử dụng chúng ở Đại Tây Dương. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Kriegsmarine (Hải quân Đức) đã sản xuất các loại U-boat khác nhau khi công nghệ được cải thiện.