HMS Agincourt (1913)

Article

May 22, 2022

HMS Agincourt là một con tàu sắt được vận hành bởi Hải quân Hoàng gia Anh. Việc chế tạo nó bắt đầu vào tháng 9 năm 1911, tại nhà máy đóng tàu Armstrong Whitworth, ở Newcastle upon Tyne, được đưa ra biển vào tháng 1 năm 1913. Nó được trang bị dàn pháo chính gồm mười bốn khẩu pháo 305 mm, lắp trong bảy tháp pháo đôi, nhiều nhất súng và tháp pháo từng được lắp đặt trên bất kỳ chiến hạm nào trong lịch sử. Với lượng choán nước hơn ba mươi nghìn tấn, nó có tốc độ tối đa là 22 hải lý / giờ (41 km một giờ). Ban đầu nó được Brazil đưa vào hoạt động vào năm 1911 với tên gọi "Rio de Janeiro", ở đỉnh cao của cuộc chạy đua vũ trang của hải quân Nam Mỹ. Tuy nhiên, sự sụp đổ của chu trình cao su và mối quan hệ được cải thiện với Argentina đã khiến người Brazil bán tàu cho Đế quốc Ottoman vào tháng 12 năm 1913. Sau đó nó được đổi tên thành Sultân Osmân-ı Evvel và gần như hoàn thiện khi Thế chiến thứ nhất bắt đầu. Tháng 7 năm 1914. Chính phủ Vương quốc Anh đã thu giữ chiếc thiết giáp hạm để Hải quân Hoàng gia sử dụng, điều này đã tạo nên sự phẫn nộ trong người Ottoman vì khoản thanh toán cho con tàu đã được hoàn tất, một thực tế góp phần khiến Đế quốc Ottoman quyết định gia nhập các Đế chế Trung tâm. Con tàu được hoàn thành và đổi tên thành HMS Agincourt, được đưa vào biên chế hạm đội Anh vào tháng 8 năm 1914, gia nhập Hạm đội Grand ở Biển Bắc. Ông đã dành phần lớn thời gian phục vụ thời chiến của mình cho các nhiệm vụ tuần tra và các bài tập huấn luyện, nhưng đã tham gia vào giữa năm 1916 trong Trận chiến Jutland chống lại quân Đức. Con tàu được đưa vào lực lượng dự bị vào tháng 3 năm 1919, sau khi chiến tranh kết thúc, với việc chính phủ Anh không thành công khi cố gắng bán nó trở lại Brazil. Chiếc Agincourt cuối cùng đã được bán để tháo dỡ vào tháng 12 năm 1922 để tuân thủ các giới hạn của Hiệp ước Hải quân Washington, và bị loại bỏ vào năm 1924.

Nền

Brazil đã trải qua một thời kỳ bất ổn sau cuộc đảo chính phế truất Hoàng đế D. Pedro II, vào tháng 11 năm 1889. Hải quân Brazil, đặc biệt là sau Cuộc nổi dậy Armada, vào năm 1893 và 1894, nhận thấy mình không thể tự chăm sóc các con tàu của mình và không thể có được những cái mới. Trong khi đó, Chile và Argentina, đối thủ chính của Brazil, đã ký một thỏa thuận hạn chế hải quân vào năm 1902, như một phần của giải pháp lớn hơn cho tranh chấp biên giới, tuy nhiên, hai nước vẫn đồng ý giữ các tàu được đóng trong thời gian chờ đợi, trong đó có nhiều tàu hiện đại và mạnh mẽ hơn đáng kể so với phụ nữ Brazil. Hải quân Brazil cũng tụt hậu so với các đối tác Chile và Argentina về số lượng: Tổng số hải quân của Chile vào đầu thế kỷ 20 là 36.896 tấn, Argentina là 34.425 tấn, trong khi Brazil chỉ đạt 27.661 tấn, mặc dù Brazil có dân số gấp 3 lần Argentina và gấp 5 lần Chile. Đồng thời, José Paranhos Júnior, Nam tước của Rio Branco, đã dẫn đầu một phong trào gồm những người Brazil lỗi lạc để buộc các quốc gia chính trên thế giới công nhận đất nước của ông là một cường quốc quốc tế. Quốc hội khai mạc năm 1904 một chương trình mua lại hải quân. Ba thiết giáp hạm nhỏ đã được đặt hàng vào năm 1906, nhưng việc hạ thủy HMS Dreadnought của Anh đã khiến hải quân Brazil phải cân nhắc lại. Một thỏa thuận đã được ký vào tháng 3 năm 1907 cho ba thiết giáp hạm thuộc Lớp Minas Geraes. Hai chiếc sẽ được đóng ngay lập tức bởi các nhà máy đóng tàu của Anh là Armstrong Whitworth và Vickers, chiếc thứ ba sẽ được chuyển giao sau đó. Các đơn đặt hàng của Argentina, sau một quá trình dài